• Tỷ lệ thu gom rác thải chung ở Việt Nam dao động từ 40% đến 85%, với sự khác biệt giữa khu vực nông thôn và thành thị.
  • Hầu hết việc tái chế rác thải đô thị ở Việt Nam đang được thực hiện bởi khu vực phi chính thức.
  • Bao bì đồ uống bằng lon nhôm có tỷ lệ tái chế trung bình cao nhất với 77%. Bên cạnh đó, tỉ lệ tái chế của nhựa PET, thùng các-tông nhiều lớp và thủy tinh lần lượt là 45%, 4% và 14%.
  • Giá trị nguyên vật liệu của lon nhôm đứng đầu trong các loại bao bì đồ uống, vì thế tỷ lệ tái chế của lon nhôm cao. Ngược lại, giá trị nguyên vật liệu của chai thủy tinh và thùng các-tông nằm ở mức thấp, tương đương với tỷ lệ tái chế của hai loại bao bì đồ uống trên thấp.
  • Chi phí tái chế tại khu vực phi chính thức được sử dụng để xác định chi phí tái chế ròng và tổng chi phí tái chế trên khắp Việt Nam. Trong đó, bốn chi phí chính được xác định bao gồm Chi phí Công nhân khu vực phi chính thức, Chi phí thu gom, Chi phí phân loại cơ sở và Chi phí vận chuyển.
  • Khi mục tiêu Tỷ lệ Tái chế cao sẽ gia tăng chi phí trung bình và tổng chi phí tái chế, tùy thuộc vào phương pháp thu gom hoặc phương pháp tiếp cận mới nào sẽ được áp dụng, bên cạnh chi phí hệ thống quản lý Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (Extended Producer Responsibility - EPR):
  • Khi định giá chi phí Trách nhiệm Mở rộng của Nhà sản xuất (EPR), cần cân nhắc các yếu tố sau:
    • Thiết lập cấu trúc phí chi tiết để phản ánh sự khác biệt trong chi phí tái chế ròng
    • Điều chỉnh phí một cách rõ ràng nhằm ngăn chặn việc sử dụng các vật liệu có thể gây ảnh hưởng.

Bấm vào đây

Tải Báo cáo chi tiết